Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê (GSO) công bố sáng 29/4, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 4 của Việt Nam ước đạt 53,57 tỷ USD, giảm 7,7% so với tháng trước và giảm 18,8% so với cùng kỳ năm 2022.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt 210,79 tỷ USD, giảm 13,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 108,57 tỷ USD, giảm 11,8%; nhập khẩu hàng hóa đạt 102,22 tỷ USD, giảm 15,4%.

Việt Nam ước tính xuất siêu 1,51 tỷ USD trong tháng 4 và xuất siêu 6,35 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm 2023.

Về thị trường, lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 4/2023, Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ đạt kim ngạch cao nhất với 28,4 tỷ USD, đứng thứ 2 là Trung Quốc với 16,4 tỷ USD.

Ngược lại, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam với 33,3 tỷ USD, đứng thứ 2 là Hàn Quốc với 16,7 tỷ USD.

Trong 4 tháng đầu năm 2023, Việt Nam xuất siêu hàng hóa sang Mỹ ước đạt 24,4 tỷ USD, giảm 23,6% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU 9,3 tỷ USD, giảm 12,7%; xuất siêu sang Nhật Bản 367 triệu USD (cùng kỳ nhập siêu 589 triệu USD).

Việt Nam nhập siêu hàng hóa từ Trung Quốc ước đạt 16,8 tỷ USD, giảm 18,1%; nhập siêu từ Hàn Quốc 8,9 tỷ USD, giảm 36,9%; nhập siêu từ ASEAN 2,3 tỷ USD, giảm 53%.

7 mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch tỷ USD trong tháng 4

Trong tháng 4/2023, Việt Nam xuất khẩu hàng hóa ước đạt 27,54 tỷ USD, giảm 7,3% so với tháng trước và giảm 17,1% so với cùng kỳ năm 2022. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của khu vực kinh tế trong nước đạt 7,12 tỷ USD, giảm 8,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 20,42 tỷ USD, giảm 6,9%.

Trong tháng 4, Việt Nam có 7 mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch tỷ USD với tổng trị giá đạt 17,75 tỷ USD, tương ứng chiếm 64,4% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng.

Máy vi tính, điện tử và linh kiện là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất với 4,1 tỷ USD. Đứng thứ 2 là điện thoại và linh kiện đạt 4 tỷ USD; tiếp đến là máy móc, thiết bị dụng cụ phụ tùng đạt 3,2 tỷ USD; hàng dệt may đạt 2,4 tỷ USD; giày dép đạt 1,8 tỷ USD; phương tiện vận tải phụ tùng đạt 1,2 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,05 tỷ USD.

Trong nhóm nông sản, gạo là mặt hàng có trị giá xuất khẩu lớn nhất với 574 triệu USD. Cà phê là mặt hàng đứng thứ 2 với 474 triệu USD; tiếp đến là rau quả với 410 triệu USD…

Trong tổng 34 mặt hàng xuất khẩu chính (theo công bố của GSO), có tới 27 mặt hàng ghi nhận kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm 2022. Xăng dầu là mặt hàng có mức giảm lớn nhất với 59%; đứng sau là dầu thô với 37%; sắt thép với 34,7%; gỗ và sản phẩm gỗ với 34,6%…

Ngược lại, gạo là mặt hàng có mức tăng kim ngạch xuất khẩu cao nhất với 108% so với cùng kỳ năm 2022. Đứng sau là cà phê với 30,7%; rau quả với 27,8%; phương tiện vận tải phụ tùng tăng 27%… Đáng chú ý, có tới 4/7 mặt hàng tăng trưởng dương thuộc nhóm hàng nông sản, bao gồm rau quả, hạt điều, cà phê và gạo.

Vải là một trong ba mặt hàng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong tháng 4

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 4/2023 của Việt Nam ước đạt 26,03 tỷ USD, giảm 8,1% so với tháng trước và giảm 20,5% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,13 tỷ USD, giảm 13%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 16,9 tỷ USD, giảm 5,2%.

Trong tháng 4/2023, có 3 mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên, trong đó máy vi tính, điện tử và linh kiện đạt 6,1 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 3,25 tỷ USD; vải đạt 1,2 tỷ USD.

Tổng trị giá nhập khẩu của 3 mặt hàng trên đạt 10,55 tỷ USD, tương ứng chiếm 40,5% tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng 4.

Về tăng trưởng, điện thoại và linh kiện là mặt hàng nhập khẩu có mức giảm kim ngạch lớn nhất với 64% so với cùng kỳ năm 2022. Đứng thứ 2 là khí đốt hóa lỏng với 49% ; tiếp đến là xăng dầu với 41%; than đá 40%; chất dẻo 36%…

Ngược lại, phế liệu sắt thép là mặt hàng nhập khẩu có mức tăng cao nhất với 37%; đứng sau là thủy sản với 17,9%; ngô với 16,9%; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện với 11,8%…